Trong ký ức đẹp đẽ của tôi về những mùa hạ đã qua, là những buổi sớm
sau giờ công phu, trời Huế còn lạnh, khi tôi còn đang miên man trong giấc ngủ
nướng vì chưa muốn rời cái chăn mỏng nhưng thật ấm của mình, sư huynh tôi đã sang
gọi dậy. Mắt nhắm mắt mở, quàng vội chiếc khăn len cho đỡ lạnh, tôi hí hửng
cùng chị chở nhau đi … hái sen.
Nói là hái sen cho oai vậy chứ kỳ thực là đi mua hoa sen tại hồ. Ở Huế, mỗi lần đến mùa sen, những khu vực hồ có sen trồng nhiều như Tịnh Tâm, Thành Nội… những ông chủ sen thường chèo đò ra hồ từ sớm, cắt sen rồi bó thành từng bó lớn để trên bờ chờ khách tới mua. Khách thường là những mối quen, bạn hàng, buôn chuyến với số lượng lớn, đem cả xe hàng đến chở về, rồi sau đó sẽ tỏa sen đi khắp nơi để tiêu thụ. Ít có những người đi mua lẻ như chị em tôi, một phần người chủ sen tâm lý ít thích bán lẻ, một phần để mua được sen đẹp, sen tươi người ta thường phải chịu khó đi vào giờ rất sớm, khi sương còn lạnh, lúc trời còn mờ mà chưa sáng hẳn trước khi lớp sen đẹp đã được đưa đi, chỉ còn những đợt sen vớt lại. Đã vậy, chúng tôi trở thành những khách hàng đặc biệt của những ông chủ sen vốn chân chất, nhưng nóng nảy và cộc tính, khi chịu khó chèo thuyền ra giữa hồ trong cái lạnh thấm đẫm của buổi sớm mùa hạ, tự tay cắt cho chúng tôi những cành sen tươi khỏe, ưng ý nhất. Chị tôi cẩn thận, chọn lựa sen rất kỹ, ông cũng chịu khó và kiên nhẫn vô cùng chiều ý chúng tôi mà không một tiếng phàn nàn…Rồi ông bó gần hơn trăm cành sen rất đẹp thành ôm lớn cho chúng tôi mang về, thời gian sau này khi chị tôi gởi tiền, ông luôn từ chối và mỉm cười dễ thương xin được dâng hoa cúng Phật.
Tôi nhớ mùa hạ năm đó, ngày nào chị em tôi cũng dâng hoa sen trên
chánh điện để rồi lặng người đi khi mỗi buổi sớm thức dậy công phu, được chiêm
ngưỡng những cành sen nở tròn viên mãn, hương thơm ngạt ngào khắp cả không
gian, tưởng như không loài hoa nào có thể thanh tao và vô nhiễm hơn nó. Rồi khi những cành sen trút bỏ những chiếc
cánh cuối cùng của mình để hóa thân vào một cõi huyền ảo xa xăm lúc nắng đã lên
vào một ngày mới đến, hương sen thơm mát như vẫn còn đọng lại, hòa quyện cùng
khói trầm hương, quấn quít theo những bước chân kinh hành niệm Phật của đại
chúng sau mỗi buổi quá đường. Mấy chị em tôi lại ngồi cùng nhau sau hiên nhà Tổ,
dưới bóng mát của giàn gấc không bao giờ ra trái mà chỉ toàn thấy lá liêu xiêu,
nhìn lên bầu trời đong đưa đầy nắng, chị em tôi lại cắt những cánh sen đã được
phơi khô thành sợi nhỏ rồi hôm sau đem hãm nước sôi để có được món trà sen thi
vị dọn cho đại chúng dùng sau thời quá đường. Hương sen, trà sen… chỉ chừng đó
chưa phải là tất cả những gì người ta có
được từ sen, nhưng trong ký ức tôi, và có lẽ với nhiều người nữa, sen đã vẽ nên một bức tranh đẹp đẽ, thanh
thoát và đạo vị… về một ngày mùa hạ ngát thơm. Chỉ vậy thôi mà thương, mà nhớ…
Rồi mùa hạ năm sau, sư huynh
tôi có duyên đi học xa, tôi cũng không còn ở gần chùa. Những sư huynh khác của
tôi có vị cũng đang đi học, có vị đang đi làm Phật sự ở tỉnh khác chưa về....
Các sư đệ của tôi thì đang tuổi ăn, tuổi lớn, hồn nhiên như những bụi cỏ mùa
xuân, gặp dòng nước mát mà lên xanh vô tư lự. Không còn ai buổi sớm thức dậy,
hì hụi đi chọn sen, ông chủ sen xưa giờ này vẫn còn cắt sen… hay đã nghỉ làm vì
già yếu để lũ con cháu trong nhà nối tiếp công việc hái sen thi vị, thanh tao…
nhưng không kém phần gió sương, gian khổ?!
Đã lâu rồi, tôi cũng chưa về lại chốn xưa vào dịp mùa hạ để trả lời cho
những câu hỏi của mình. Chỉ biết, mỗi năm đến hạ, hoa sen ở Huế vẫn nở nhiều,
cung vẫn đủ cầu cho những bạn hàng, buôn mối… cần lấy với số lượng nhiều, và cả
những khách hàng đặc biệt khó tính như chúng tôi, khi mỗi lần ngang chợ, qua
những con đường nhỏ, bên bờ hồ phía Tây Nam thành phố tôi vẫn thấy người ta bày
bán thật nhiều sen, sắc trắng, sắc hồng… bó thành bó 10 cành, 20 cành.
Lại nhớ đến mùa hạ năm nào đã nằm yên một góc trong ký ức của mình,
nhưng bỗng bồi hồi thức dậy khi bất chợt nhìn thấy sắc sen xưa, bất chợt được
nghe mùi hương sen thơm ngát thoảng về…
Những ngày tháng sống xa Thầy tổ, xa huynh đệ, với tôi, quả thật là
những ngày tháng thật khó khăn, cho dù tôi vốn cũng là một kẻ đã từng “giang hồ
” trên nhiều nơi chốn. Ngày tôi quyết định y áo tề chỉnh, cúi lạy Thầy tôi
trong phương trượng để ra đi theo nghiệp sách đèn, Thầy nhìn tôi mà không nói
nhiều, chỉ nhẹ nhàng nhắc: “Nhớ lên chùa
lạy Phật lạy Tổ mà đi…”. Tôi nghe lời Thầy, đem theo hai mảnh giấy nhỏ
trong đó có viết chữ “đi” và “không đi” rồi lên Chánh điện cầu Ngài Hộ
Pháp, xin Ngài chỉ cho tôi một con đường phù hợp. Tôi nhớ mình đã mừng vui hí
hửng vô cùng khi bắt được mảnh giấy có chữ “đi”.
Đem xuống khoe với Thầy thì Thầy cười, rồi nói “Ừ, Ngài cho đi là được”. Vậy mà thắm thoắt cũng đã hơn hai năm…
Ngày ấy Thầy cho phép tôi khăn gói lên đường dự thi vào Học Viện Phật Giáo Việt
Nam
tại Thành phố Hồ Chí Minh khi tôi vừa gần bước qua tuổi thanh xuân. Thầy tôi
dạy rằng: “Cho hắn đi học không thôi sau
ni già, học không vô nữa thì tội…”
Hai năm đầu trôi qua với nhiều kỷ niệm buồn vui khác nhau. Có những
lúc tôi cảm thấy mình lạc lõng, bơ vơ và cũng cô đơn cùng cực, nhiều khi tôi
chỉ muốn buông bỏ mọi thứ để về lại nơi chốn chùa xưa, ở đó mới là nơi dành cho
tôi, thuộc về tôi. Đó là nơi chốn tôi luôn cảm thấy mình bình an, không nhiều
phiền lụy. Ở đó, dù sao tôi cũng còn Thầy tổ, còn huynh đệ của mình dắt dìu,
nâng đỡ và nghiêm khắc mỗi khi tôi vấp ngã, lỡ lầm. Ở cái thành phố hiện đại và năng động nhưng thật không kém
phần xô bồ, ồn ã này, có khi tôi cảm thấy ngột ngạt không lành… Nhưng rồi,
những lúc ngồi suy tư trầm ngâm một mình trong góc phòng, khi xung quanh vắng
lặng, tôi lại lấy những cuốn sách mà các sư huynh dặn đi học phải mang theo ra
đọc, bất chợt bắt gặp được những bài học của người xưa, về những tư duy Thiền
học, như câu chuyện của Thiền sư Ẩn Phong và Ngài Mã Tổ: “Đã tiến nhất định không lùi” hay “Đưa chân ra, thì không rút lại”. Khi đắm mình vào trong thế giới
uyên thâm đầy trí tuệ đó, tôi nhận thức được mình cần phải làm gì. Để rồi lại
bắt đầu hồ hởi cho một chặng đường mới phía trước…
Mùa hạ năm này, sức khỏe Thầy tôi đã kém hơn rất nhiều so với hai
mùa hạ trước. Những lần tôi gọi điện về thăm Thầy, Thầy mệt nên chỉ nói được
vài câu ngắn gọn rồi Thầy gác máy. Tôi viết thư tay thăm hỏi sức khỏe của Thầy một cách đầy hình
thức bởi tôi biết mình sẽ chẳng làm được gì khi đang ở xa, đặc biệt trong mùa
hạ này, khi tôi đã xoay sở đủ cách để có thể về chùa an cư cùng Thầy và các
huynh đệ. Nhưng duyên chưa đủ để có thể làm theo những gì mình mong muốn, tôi
đành ở lại thành phố để an cư tập trung cùng đại chúng nơi ngôi chùa tôi đang
tạm trú trong thời gian theo học Học Viện. Tất cả mọi điều, tôi chỉ biết tự
mình nỗ lực cố gắng thanh tịnh an cư trong ba tháng hạ, chấp tác, tụng kinh,
niệm Phật, kinh hành, học tập giới luật… mong hồi hướng chút công đức nhỏ nhoi
đến Thầy tôi huyễn thân được khinh an,
tinh thần nhẹ nhàng, thư thái. Ba mẹ tôi những buổi lên chùa cúng dường quá
đường, mẹ kể Thầy nhắn tôi Tết này nhớ về… Bây giờ cũng gần cuối hạ, còn một
học kỳ mới phía trước, cũng gần 4, 5 tháng… Thời gian rồi sẽ trôi qua phải
không, đến ngày tôi sẽ lại bước lên chuyến tàu Bắc Nam trong chuyến hành trình về lại
miền Trung đầy nắng gió của mình. Nơi ấy, có Thầy và các chị em tôi đang đợi…
Tp.HCM, 10/2009
Thuần Chơn.






0 nhận xét:
Đăng nhận xét